I- Tổng quan về báo hiệu
/*Báo hiệu trong thông tin di động là gì*/
Chuyển và hướng dẫn thông tin từ một điểm tới một điểm khác để thiết lập, giám sát các cuộc gọi trong mạng thông tin di động
Thông thường báo hiệu được phân thành 2 loại: báo hiệu tổng đài, và báo hiệu mạch vòng thuê bao
Trong báo hiệu tổng đài được chia thành 2 lại : CAS và CCS
/* Cần nắm cơ bản khái niệm về CAS và CSS*/
CAS: Báo hiệu kênh liên kết, có thể hiểu cơ bản là tín hiệu báo hiệu nằm trong kênh thoại , hoặc ở kênh liên kết gắn liền với kênh thoại
Hay có thể nói như sau, mỗi kênh thoại đều có một đường báo hiệu , tín hiệu chuyển giao trong thoại như báo hiệu trong băng. Ngoài ra có thể là đường báo hiệu kết hợp nằm cùng trên kênh thoại, ví dụ trong PCM, tín hiệu báo hiệu nằm ở khe thứ 16.
Hạn chế: Là tương đối chậm, và dung lượng thông tin hạn chế
Hạn chế: Là tương đối chậm, và dung lượng thông tin hạn chế
CSS: Báo hiệu kênh chung, có nghĩa là tất cả báo hiệu đường nằm trên một kênh riêng tách biệt với kênh thoại, kênh báo hiệu này có thể phục vụ một số lượng lớn kênh thoại
Trong loại báo hiệu này đường truyền tốc độ cao giữa các tổng đài SPC dùng để xử lý tín hiệu báo hiệu, còn các mạch thoại chỉ dùng để truyền tiếng nói.( kênh báo hiệu và kênh thoại được tách biệt với nhau)
Thông tin báo hiệu được chia thành những nhóm gói tin để truyền đi, bên cạnh thông tin báo hiệu còn có các thông tin khác về kiểm soát lỗi, xác định địa chỉ..
Thông tin báo hiệu được chia thành những nhóm gói tin để truyền đi, bên cạnh thông tin báo hiệu còn có các thông tin khác về kiểm soát lỗi, xác định địa chỉ..
Hệ thống báo hiệu SS7 là loại báo hiệu kênh chung CSS, tốc độ truyền báo hiệu 64kb/s, và sử dụng phân lớp theo mô hình OSI được sử dụng trong báo hiệu SS7. SS7 có thể được sử dụng trên các đường day anolog và nó có thể sử dụng cho nhiều dịch vụ bao gồm cả những dịch vụ phi thoại. Ưu điểm của SS7
Nhanh
Dung lượng cao
Kinh tế
Tin cậy
Linh hoạt
SS7 được sử dụng ở nhiều hệ thống khác nhau PSTN,ISDN, PMLN, IN
II- Hệ thống báo hiệu số 7-SS7
/* SS7 rất phức tạp cần nắm những đặc điểm chính và cần thiết cho bản thân ví du: cấu trúc các thành phần của SS7 so với mô hình GSM. trong mạng di động GSM những lớp nào thường đc sử dụng và cách thức sử dụng như thể nào*/
1- Mối quan hệ mô hình OSI và hệ thống SS7
SS7 được cấu trúc theo kiểu modul giống như mô hình OSI, nhưng SS7 gồm có 4 lớp: 3 lớp thấpphần chuyển tiếp bản tin (MTP), và lớp thứ 4 dùng cho người sử dụng (UP). Một số thành phần UP cho các người dùng khác nhau
TUP Telephony User Protocol
DUP Data User Protocol
ISUP ISDN User Protocol
MTUP Mobile Telephony User Protocol
SCCP là phần điều khiển đấu nối tín hiệu được bổ sung vào lớp vận chuyển nhằm mục đích bổ sung nhiều chức năng cho SS7, và SS7 có thể giống như mô hình OSI thực hiện đầy đủ quá trình kêt nối, cắt kết nối và truyền thông tin
/* Co ban ve MTP*/
MTP truyền tải chung cho tất cả ứng dụng cho viễn thông, chuyển tải các thông tin báo hiệu giữa các tổng đài (hay các điểm chuyển tiếp)
MTP gồm 2 phần: kênh số liệu báo hiệu và hệ thông điều khiển chuyển giao bản tin báo hiệu
Và hệ thống điều khiển chuyển giao báo hiệu bao gồm 2 phần: chức năng của kênh báo hiệu và chức năng của mạng báo hiệu
Chức năng kênh báo hiệu: Giám sát kênh báo hiệu, và tìm ra những bản tin báo hiệu bị lỗi, điều khiển các bản tin đã phát đảm bảo theo đúng thứ tự
Chức năng mạng báo hiệu: các bản tin nhằm xử lý các bản tin lưu lượng mạng báo hiệu và điều hành mạng báo hiệu
chức năng kênh báo hiệu là định tuyến các bản tin tới kênh thích hợp và phân phối các bản tin báo hiệu, còn chức năng của mạng báo hiệu thực hiện quá trình điều hành mạng báo hiệu khi xảy ra sai sót quá trình sữa chữa và cấu hình lại hệ thống
/*tóm lại cần nhớ trong MTP được chia thành 2 phần kênh số liệu và hệ thống điều khiển, trong hệ thống điều khiển được phân thành 2 chức năng phù hợp khac nhau theo kênh báo hiệu và mạng bóa hiệu (co thể nhớ kênh số liệu, kênh báo hiệu và mạng báo hiệu )*/
1.1- Kênh số liệu
Kênh số liệu báo hiệu là kênh tồn tại trên 2 hướng song song để truyền dẫn các bản tin báo hiệu
kênh số liệu báo hiệu có thể là hệ thống số hay hệ thống analog, trong hệ thông số tốc độ truyền của kênh số liệu báo hiệu là 64kb/s và trên mạng analog được thiết lập với tần số 4khz thông qua các modem
1.2-Kênh báo hiệu
cùng với kênh số liệu nó là môi trường truyền dẫn cung cấp kênh báo hiệu giữa 2 điểm báo hiệu và thực hiện nhiều chức năng khác nhau và đảm bảo các bản tin đường truyền đi theo đúng thứ tự
/*trong phần này còn rất nhiều chi tiết bên trong về các chức năng báo hiệu và các khối báo hiệu có thể tìm hiểu sau khi có thêm thời gian*/
1.3-Mạng báo hiệu
2- Tìm hiệu SCCP (Signalling Conecting Control Part)
SCCP được thêm vào MTP nhằm tăng khả năng sử dụng ss7 và mục đích nhằm phục vụ các dịch vụ không liên quan đến mạch điện như
Dịch vụ di động: chuyển vùng giữa các MSC
Các dịch vụ liên quan tới cơ sở dữ liệu
Nhanh
Dung lượng cao
Kinh tế
Tin cậy
Linh hoạt
SS7 được sử dụng ở nhiều hệ thống khác nhau PSTN,ISDN, PMLN, IN
II- Hệ thống báo hiệu số 7-SS7
/* SS7 rất phức tạp cần nắm những đặc điểm chính và cần thiết cho bản thân ví du: cấu trúc các thành phần của SS7 so với mô hình GSM. trong mạng di động GSM những lớp nào thường đc sử dụng và cách thức sử dụng như thể nào*/
1- Mối quan hệ mô hình OSI và hệ thống SS7
SS7 được cấu trúc theo kiểu modul giống như mô hình OSI, nhưng SS7 gồm có 4 lớp: 3 lớp thấpphần chuyển tiếp bản tin (MTP), và lớp thứ 4 dùng cho người sử dụng (UP). Một số thành phần UP cho các người dùng khác nhau
TUP Telephony User Protocol
DUP Data User Protocol
ISUP ISDN User Protocol
MTUP Mobile Telephony User Protocol
SCCP là phần điều khiển đấu nối tín hiệu được bổ sung vào lớp vận chuyển nhằm mục đích bổ sung nhiều chức năng cho SS7, và SS7 có thể giống như mô hình OSI thực hiện đầy đủ quá trình kêt nối, cắt kết nối và truyền thông tin
/* Co ban ve MTP*/
MTP truyền tải chung cho tất cả ứng dụng cho viễn thông, chuyển tải các thông tin báo hiệu giữa các tổng đài (hay các điểm chuyển tiếp)
MTP gồm 2 phần: kênh số liệu báo hiệu và hệ thông điều khiển chuyển giao bản tin báo hiệu
Và hệ thống điều khiển chuyển giao báo hiệu bao gồm 2 phần: chức năng của kênh báo hiệu và chức năng của mạng báo hiệu
Chức năng kênh báo hiệu: Giám sát kênh báo hiệu, và tìm ra những bản tin báo hiệu bị lỗi, điều khiển các bản tin đã phát đảm bảo theo đúng thứ tự
Chức năng mạng báo hiệu: các bản tin nhằm xử lý các bản tin lưu lượng mạng báo hiệu và điều hành mạng báo hiệu
chức năng kênh báo hiệu là định tuyến các bản tin tới kênh thích hợp và phân phối các bản tin báo hiệu, còn chức năng của mạng báo hiệu thực hiện quá trình điều hành mạng báo hiệu khi xảy ra sai sót quá trình sữa chữa và cấu hình lại hệ thống
/*tóm lại cần nhớ trong MTP được chia thành 2 phần kênh số liệu và hệ thống điều khiển, trong hệ thống điều khiển được phân thành 2 chức năng phù hợp khac nhau theo kênh báo hiệu và mạng bóa hiệu (co thể nhớ kênh số liệu, kênh báo hiệu và mạng báo hiệu )*/
1.1- Kênh số liệu
Kênh số liệu báo hiệu là kênh tồn tại trên 2 hướng song song để truyền dẫn các bản tin báo hiệu
kênh số liệu báo hiệu có thể là hệ thống số hay hệ thống analog, trong hệ thông số tốc độ truyền của kênh số liệu báo hiệu là 64kb/s và trên mạng analog được thiết lập với tần số 4khz thông qua các modem
1.2-Kênh báo hiệu
cùng với kênh số liệu nó là môi trường truyền dẫn cung cấp kênh báo hiệu giữa 2 điểm báo hiệu và thực hiện nhiều chức năng khác nhau và đảm bảo các bản tin đường truyền đi theo đúng thứ tự
/*trong phần này còn rất nhiều chi tiết bên trong về các chức năng báo hiệu và các khối báo hiệu có thể tìm hiểu sau khi có thêm thời gian*/
1.3-Mạng báo hiệu
2- Tìm hiệu SCCP (Signalling Conecting Control Part)
SCCP được thêm vào MTP nhằm tăng khả năng sử dụng ss7 và mục đích nhằm phục vụ các dịch vụ không liên quan đến mạch điện như
Dịch vụ di động: chuyển vùng giữa các MSC
Các dịch vụ liên quan tới cơ sở dữ liệu

